Breaking News
Home / Thủ thuật IT (page 2)

Thủ thuật IT

CÔNG NGHỆ 4G

CÔNG NGHỆ 4G

                                                                                

Tiếp theo mạng thông tin di động (TTDĐ) thế hệ thứ 3 (3G – 3rd Generation), Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) đang hướng tới một chuẩn cho mạng di động tế bào mới thế hệ thứ 4 (4G – 4th Generation). 4G có những tính năng vượt trội như: Cho phép thoại dựa trên nền IP, truyền số liệu và đa phương tiện với tốc độ cao hơn rất nhiều so với các mạng di động hiện nay… Theo tính toán, tốc độ truyền dữ liệu có thể lên tới 100 Mb/s, thậm chí lên tới 1 Gb/s trong các điều kiện tĩnh.

Các công nghệ tiền 4G

3 công nghệ dưới đây được xem là các công nghệ tiền 4G, đó là các công nghệ làm sở cứ để xây dựng nên chuẩn 4G trong tương lai.

LTE (Long-Term Evolution)

Tổ chức chuẩn hóa công nghệ mạng TTDĐ tế bào thế hệ thứ ba 3G UMTS 3GPP (3rd Generation Partnership Project) bao gồm các tổ chức chuẩn hóa của các nước châu á, châu âu và Bắc Mỹ đã bắt đầu chuẩn hóa thế hệ tiếp theo của mạng di động 3G là LTE.

LTE được xây dựng trên nền công nghệ GSM (Global System for Mobile Communications), vì thế nó dễ dàng thay thế và triển khai cho nhiều nhà cung cấp dịch vụ. Nhưng khác với GSM, LTE sử dụng phương thức ghép kênh phân chia theo tần số trực giao (OFDM) – truyền dữ liệu tốc độ cao bằng cách phân chia thành các sóng mang con trực giao. LTE sử dụng phổ tần một cách thích hợp và mềm dẻo, nó có thể hoạt động ở băng tần có độ rộng từ 1,25 MHz cho tới 20 MHz. Tốc độ truyền dữ liệu lớn nhất (về lý thuyết) của LTE có thể đạt tới 250 Mb/s khi độ rộng băng tần là 20 MHz. LTE khác với các công nghệ tiền 4G khác như WiMAX II ở chỗ, nó chỉ sử dụng OFDM ở hướng lên, còn ở hướng xuống nó sử dụng đa truy nhập phân chia theo tần số đơn sóng mang để nâng cao hiệu quả trong việc điều khiển công suất và nâng cao thời gian sử dụng pin cho thiết bị đầu cuối của khách hàng.

UMB (Ultra Mobile Broadband)

Tổ chức chuẩn hóa công nghệ mạng TTDĐ thế hệ thứ ba CDMA2000 3GPP2 (3rd Generation Partnership Project 2) được thành lập và phát triển bởi các tổ chức viễn thông của Nhật Bản, Trung Quốc, Bắc Mỹ và Hàn Quốc cùng với các hãng như Alcatel-Lucent, Apple, Motorola, NEC và Verizon Wireless. Thành viên của 3GPP2, Qualcomm là hãng đi đầu trong nỗ lực phát triển UMB, mặc dù hãng này cũng chú tâm cả vào việc phát triển LTE.

UMB dựa trên CDMA (Code Division Multiple Access) có thể hoạt động ở băng tần có độ rộng từ 1,25 MHz đến 20 MHz và làm việc ở nhiều dải tần số. UMB được đề xuất với tốc độ truyền dữ liệu lên tới 288 Mb/s cho luồng xuống và 75 Mb/s cho luồng lên với độ rộng băng tần sử dụng là 20 MHz. Công nghệ này sẽ cung cấp kết nối thông qua các sóng mang dựa trên đa truy nhập phân chia theo mã CDMA.

IEEE 802.16m (WiMAX II)

IEEE 802.16 là một chuỗi các chuẩn do IEEE phát triển, chúng hỗ trợ cả cố định (IEEE 802.16-2004) và di động (IEEE 802.16e-2005). IEEE 802.16m (hay còn gọi là WiMAX II) được phát triển từ chuẩn IEEE 802.16e, là công nghệ duy nhất trong các công nghệ tiền 4G được xây dựng hoàn toàn dựa trên công nghệ đa truy nhập phân chia theo tần số trực giao OFDMA (kỹ thuật đa truy cập vào kênh truyền OFDM).

Công nghệ WiMAX II sẽ hỗ trợ tốc độ truyền dữ liệu lên tới 100 Mb/s cho các ứng dụng di động và có thể lên tới 1Gb/s cho các người dùng tĩnh. Khoảng cách truyền của WiMAX II là khoảng 2 km ở môi trường thành thị và khoảng 10 km cho các khu vực nông thôn.

Hãng Intel đang dẫn đầu về đề xuất sử dụng và phát triển WiMAX II cho hệ thống 4G, một chiến lược mà các Hãng Alcatel-Lucent, AT&T, Motorola, Nokia, Samsung, Sprint Nextel và các thành viên khác của WiMAX Forum cũng hỗ trợ tích cực.

 

Sự phát triển của hai công nghệ GSM và CDMA

Hiện tại, các mạng di động tế bào trên thế giới đang chủ yếu sử dụng hai công nghệ GSM và CDMA. GSM dựa trên công nghệ đa truy nhập phân chia theo thời gian TDMA (Time Division Mutiple Access). Với công nghệ này, băng tần được chia thành các băng tần con và tại các băng tần con chúng được thực hiện phân chia theo thời gian để có thể thực hiện được đa truy nhập cho nhiều người dùng. CDMA là công nghệ đa truy nhập phân chia theo mã. Các thuê bao của mạng di động CDMA sẽ chia sẻ cùng một dải tần dùng chung. Nhiều thuê bao có thể kết nối đồng thời và tín hiệu được phát đi trên cùng một dải tần. Các kênh thuê bao được tách biệt bằng cách sử dụng mã ngẫu nhiên. Các tín hiệu của nhiều thuê bao khác nhau sẽ được mã hoá bằng các mã ngẫu nhiên khác nhau, sau đó được trộn lẫn và phát đi trên cùng một dải tần chung và chỉ được phục hồi duy nhất ở thiết bị đầu cuối thuê bao với mã ngẫu nhiên tương ứng.

Điểm khác nhau giữa chúng là dải tần số hoạt động cũng như phương thức mã hóa thoại và dữ liệu mà chúng sử dụng. Thời gian qua, cả hai công nghệ này đã có nhiều phát triển với việc tích hợp thêm nhiều công nghệ để nâng cao hiệu năng mạng trong việc cung cấp các dịch vụ với tốc độ cao hơn, chất lượng tốt hơn. Họ GSM bao gồm cả công nghệ 2,5G với dịch vụ vô tuyến gói chung GPRS (General Packet Radio Service) và công nghệ 2,75G EDGE (Enhanced Data Rates for GSM Evolution) với việc nâng cao tốc độ truyền dữ liệu cho GSM đã giải quyết được phần nào nhược điểm trong việc truyền dữ liệu tốc độ thấp của GSM ban đầu. Với CDMA, sự ra đời của công nghệ CDMA băng rộng 3G (WCDMA) và truy nhập gói tốc độ cao HSPA (High Speed Packet Access) là các giải pháp cho việc nâng cao hiệu năng của mạng, hay với CDMA2000 là sự phát triển lên EV-DO (Evolution Data Only).

Nhu cầu người dùng là động lực phát triển 4G

Nhu cầu của khách hàng luôn tác động lớn đến sự ra đời, tồn tại và phát triển của một công nghệ mới. Có thể nói, hiện nay có hai yếu tố từ nhu cầu của người dùng tác động đến sự phát triển của công nghệ 4G. Thứ nhất, đó là sự gia tăng về nhu cầu các ứng dụng của mạng không dây và nhu cầu băng thông cao khi truy nhập Internet. Thứ hai, người dùng luôn muốn công nghệ không dây mới ra đời vẫn sẽ cung cấp các dịch vụ và các tiện ích theo cách tương tự như mạng hữu tuyến, mạng không dây hiện có mà họ đang dùng với những thói quen của họ. Và hiển nhiên nhu cầu về chất lượng các dịch vụ cung cấp được tốt hơn, tốc độ cao hơn; tốc độ truy nhập Web, tải xuống các tài nguyên mạng nhanh hơn; các chương trình truyền hình trực tuyến có chất lượng tốt hơn… là đích hướng tới của công nghệ di động 4G trong tương lai.

Tính đến hết tháng 12.2007, tổng số người dùng của các mạng sử dụng công nghệ GSM là khoảng 2.844 triệu người (86,6%), trong khi con số này của các mạng CDMA là 381 triệu người (11,6%) và số lượng thuê bao của các mạng sử dụng các công nghệ khác là 69 triệu người (1,8%). Trong năm 2007, số lượng thuê bao tăng thêm của các mạng GSM là 586 triệu và của các mạng CDMA là 41 triệu. Điều đó cho thấy, số lượng thuê bao mạng GSM và các công nghệ phát triển từ GSM đang chiếm phần lớn thị phần hiện nay trên thế giới. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự lựa chọn công nghệ cho phát triển mạng của các nhà đầu tư trong tương lai.

Hình 2 cho thấy sự phát triển của các công nghệ cho mạng di động tế bào cũng như tốc độ truyền dữ liệu tương ứng của chúng. 4G là một công nghệ di động của tương lai, nó kế thừa và phát triển từ những công nghệ của mạng tế bào trước đó – các công nghệ tiền 4G hay các công nghệ siêu 3G (Super 3G). Các công nghệ 4G được xây dựng sẽ có tốc độ truyền dữ liệu cao trên 100 Mb/s, thậm chí lên tới 1Gb/s cho các điều kiện tĩnh.

Các nhà sản  xuất, đầu tư có thể bắt đầu thực hiện các sản phẩm của họ vào khoảng năm 2010 đến 2012, và mạng 4G có thể được xây dựng và phát triển mạnh để khai thác khoảng trước năm 2015. Công nghệ 4G sẽ cung cấp một mạng dịch vụ với tốc độ truyền dữ liệu cao thông qua các kênh truyền dẫn băng rộng. Nó cho phép gửi và nhận lượng thông tin nhiều hơn và các kỹ thuật thu phát MIMO (Multi-Input Multi-Output) sẽ giúp hệ thống làm việc với hiệu năng cao, chất lượng dịch vụ tốt hơn.

Định hướng và tương lai của công nghệ 4G

Cho đến nay, chưa có một chuẩn nào rõ ràng cho 4G được thông qua. Tuy nhiên, những công nghệ phát triển cho 3G hiện nay sẽ làm tiền đề cho ITU xem xét để phát triển cho chuẩn 4G. Các sở cứ quan trọng để ITU thông qua cho chuẩn 4G chính là từ hỗ trợ của các hãng di động toàn cầu; các tổ chức chuẩn hóa và đặc biệt là sự xuất hiện của 3 công nghệ mạng di động tế bào tiền 4G (LTE, UMB và WiMAX II). Chúng sẽ là các công nghệ quan trọng giúp ITU xây dựng các chuẩn 4G trong thời gian tới.

Mặc dù chưa có chuẩn nào cho 4G được thông qua, nhưng một số hãng đã sẵn sàng để làm việc với công nghệ 4G. Cho đến nay, ITU vẫn chưa định nghĩa cụ thể về công nghệ 4G, nhưng các nhà đầu tư như NTT DoCoMo và Sprint Nextel đang đầu tư vào các thử nghiệm cho công nghệ này nhằm mục đích thu được những kinh nghiệm làm việc với 4G cũng như nâng cao hiệu năng cho 4G trước khi chính thức được đưa vào khai thác.

Theo dự đoán của các nhà phân tích, các công nghệ như EV-DO và HSPA sẽ không còn đủ mạnh vào những năm 2011-2012. Theo họ, rất nhiều thiết bị đầu cuối sử dụng các công nghệ 3G hay 3,5G đều có bộ vi xử lý không thực sự phù hợp cho các ứng dụng đa phương tiện, mặc dù tính năng này mạng đã hỗ trợ. Vì thế mà các thiết bị đầu cuối sẽ phải cải tiến trước khi người dùng nghĩ đến chi phí mà họ phải trả cho các thiết bị đầu cuối để sử dụng các dịch vụ tốc độ cao đã tương xứng hay chưa. Hiện tại, các nhà đầu tư có thể mở rộng khả năng cho mạng 3G bằng cách nâng cấp lên 3,5G, điều đó đồng nghĩa với việc ứng dụng 4G sẽ bị chậm lại.

Hiện nay, phần lớn các nhà khai thác viễn thông đều lên kế hoạch thực hiện 4G cho các vùng đô thị, nơi mà có nhiều các tổ chức, công ty cũng như số lượng khách hàng lớn – các đối tượng mà luôn mong muốn các dịch vụ chất lượng tốt và tốc độ truyền dữ liệu cao. Tuy nhiên, trước mắt các nhà đầu tư sẽ tiếp tục cung cấp các dịch vụ 3G cũng như 3,5G và nó được xem như là quá trình thực hiện từng bước cho 4G. Điều này không chỉ giúp họ tiếp tục mở rộng vùng phủ sóng, gia tăng số lượng khách hàng mà còn giúp thu hồi vốn đã đầu tư cho 3G. Với người dùng, có thể chuyển dễ dàng sang công nghệ 4G, bởi với họ đơn giản đó chỉ là sự mở rộng các ứng dụng của mạng 3G hay 3,5G mà họ đang dùng.

Tại các nước châu Phi, khu vực Mỹ La tinh, Hàn Quốc và Mỹ sử dụng phổ biến CDMA, vì vậy các nhà khai thác đang hướng mạng của họ phát triển lên theo UMB. Với các quốc gia châu âu, phần lớn sử dụng GSM, vì thế họ đang hướng phát triển mạng theo LTE mà không vội vàng chuyển theo hướng WiMAX II tốn kém hơn. Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông còn lại của thế giới nhiều khả năng sẽ phát triển mạng theo WiMAX II.

Tuy nhiên, thị trường cho mạng không dây không phải chỉ dành riêng cho 4G và với riêng 4G cũng khó có thể đáp ứng đủ nhu cầu của người dùng ngày càng cao. Và việc thông qua chuẩn cho 4G sẽ không xảy ra cho tới khi các tiến trình chuẩn hóa được thực hiện và các nhà đầu tư bắt đầu thu hồi được vốn mà họ đã đầu tư cho 3G và 3,5G.

_______________

Tài liệu tham khảo

– Jr. Sixto Ortiz, 4G Wireless Begins to Take a Shape, IEEE Communications Society.

– ITU: www.itu.int.

– GSA – The Global Mobile Suppliers Association: http://www.gsacom.com.

– NTT DoCoMo, Nhật Bản: http://www.nttdocomo.com/technologies/future/index.html.

 

Tìm hiểu về NAT – PAT

NAT và PAT

Wednesday, 7. October 2009, 08:21:38

NAT là kiến thức hết sức căn bản đối với những sinh viên học chuyên nghành về công nghệ thông tin, tuy nhiên để hiểu cặn kẽ và kỹ lưỡng về kỹ thuật này thì không nhiều bạn có thể trình bày một cách hoàn chỉnh.


Network Address Translation: NAT là kỹ thuật thay đổi các địa chỉ mạng (Network Address) trong một gói tin (packet) để gây ảnh hưởng trong quá trình định hướng đi của packet cho một mục đích cụ thể. Địa chỉ mạng ở đây muốn nói đến địa chỉ IP WAN (Internet Protocol) ở layer 3, ngoài ra còn có thể thay đổi số port ở layer 4 theo mô hình phân lớp OSI. Bên cạnh đó địa chỉ mạng còn được phân biệt địa chỉ nguồn (source) và địa chỉ đích (destination). Tùy theo mục đích dùng NAT mà ta thay đổi một số hoặc tất cả các loại địa chỉ trên, trên cùng một packet.

Đây là loại hình NAT phổ biến nhất, ta còn hay gọi là Des NAT, hay NAT Inbound. NAT theo kiểu này chỉ thay đổi địa chỉ IP đích của gói tin mà không đụng đến các thành phần khác. Đây cũng là kiểu được sử dụng mặc định trong các ROUTER ( thiết bị định tuyến nói chung ) theo cách sau:

•Khi client gửi packet request i tới ROUTER, i sẽ có dest IP là Virtual IP của ROUTER (141.149.65.3), source IP là IP của client (188.1.1.10). Do ROUTER đại diện cho tất cả những server thực đằng sau, nên IP của ROUTER cũng là địa chỉ đại diện, client sẽ chỉ liên hệ với ROUTER mà không biết được địa chỉ thật của các server là gì ( trước khi biết VIP của router nó phải nhờ DNS server dịch từ tên miền sang địa chỉ IP ). Địa chỉ IP đại diện của ROUTER còn là địa chỉ IP ảo (Virtual IP – VIP)
•ROUTER sẽ gửi repquest i đến server để xử lý nên nó thực hiện thay dest IP trong i thành IP của server (10.10.10.20), source IP vẫn giữ nguyên (188.1.1.10). Thao tác này gọi là Destination NAT ( dịch chuyển IP đích ).
•Nhờ có dest IP là IP của server nên request i sẽ được định tuyến tiếp đến server xử lý.
•Khi server trả lời, packet reply sẽ đi qua lại ROUTER. Tại đây packet được un-NAT, nghĩa là thay lại địa chỉ IP của server (lúc này trở thành source IP) bằng VIP của ROUTER.
Reverse NAT

Trong cơ chế của ROUTER, các server thật chỉ được cấp địa chỉ IP private (vì nhiều lý do, trong đó có sự hạn chế về số lượng IP public và tính bảo mật, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt cho server kết nối thẳng IP public), nghĩa là không thể đi ra Internet được. ROUTER được publish ra Internet để nhận request cho các server bên trong, nên nó thường có một, hoặc nhiều địa chỉ IP public để các client kết nối từ bên ngoài vào, và địa chỉ này cũng là VIP. Khi client muốn sử dụng dịch vụ của server bên trong, ROUTER thực hiện việc chuyển đổi địa chỉ dest IP từ public sang private để đến được server, đó là kiểu NAT ta xét ở trên. Trong trường hợp ngược lại, khi server bên trong muốn khởi tạo kết nối với bên ngoài Internet, ROUTER phải thực hiện việc chuyển địa chỉ source IP của packet đi ra từ private sang public để có thể lưu thông trên Internet. Do cách hoạt động như vậy nên kiểu NAT này còn được gọi là SourceNAT, hay NAT outbound.

Port-Address Translation (PAT)

Hai trường hợp trên ta đã xem xét hai kiểu thay đổi địa chỉ IP, trường hợp thứ ba này còn được gọi là “NAT port”, nghĩa là số port TCP/UDP ở trong packet sẽ bị thay đổi (ở đây ta không xét đến các protocol khác cũng có dùng port). PAT cũng là một phần tất yếu trong các chức năng chính của ROUTER. Cách hoạt động của nó cũng rất đơn giản: Khi ta liên kết (bind) port 80 của VIP trên ROUTER đến port 1000 trên server thật, load balancer sẽ thực hiện việc chuyển đổi và đẩy toàn bộ yêu cầu port 80 (dest port) đến port 1000 trên server.

Những lợi ích khi ta thực hiện PAT:

– Bảo mật là ích lợi đầu tiên mà ta thấy ngay. Bằng cách không mở những cổng mặc định trên server, ta có thể gây khó khăn hơn cho việc tấn công ác ý. Chẳng hạn, ta có thể chạy một Web server trên port 4000, và liên kết port 80 của VIP trên ROUTER đến port 4000 của server thật. Lúc bấy giờ, kẻ tấn công không thể khai thác trực tiếp lên port 80 của server thật được, vì nó không được mở.
– Khả năng co dãn (scalability) PAT cho phép ta chạy cùng một ứng dụng trên nhiều port. Tùy theo cách thiết kế ứng dụng, có thể việc chạy nhiều bản sao của nó sẽ làm tăng hiệu suất phục vụ lên. Chẳng hạn ta có thể chạy máy chủ web IIS trên các port 80, 81, 82 của mỗi server thật. Sau đó chỉ cần liên kết port 80 của VIP với mỗi port chạy IIS của server thật. Load balancer sẽ phân bổ lưu thông không chỉ cho các server mà còn giữa các port trên từng server.
– Khả năng quản trị (manageability) chẳng hạn khi host nhiều website trên một bộ các server thật, ta có thể chỉ cần dùng một VIP để đại diện cho tất cả các domain của các website. Lúc này ROUTER sẽ nhận tất cả các request đến port 80 ở cùng một VIP. Web server của ta có thể chạy mỗi domain trên một port khác nhau, chẳng hạn www.abc.com trên port 81, www.xyz.com trên port 82. ROUTER có thể gửi lưu thông đến port phù hợp dựa trên domain trong URL của mỗi HTTP request.

Full NAT

Như vậy ta đã xét kỹ thuật NAT thay đổi lần lượt địa chỉ đích, địa chỉ nguồn, rồi thay đổi port khi định tuyến. Mỗi sự thay đổi là một loại hình NAT có ứng dụng trong từng trường hợp riêng. Kết hợp các kiểu thay đổi này lại, ta có một kiểu NAT khác phức tạp hơn là Full NAT. Kiểu NAT này có tên gọi như vậy vì nó bao gồm các thay đổi sau đây trên gói tin request:
•Địa chỉ IP nguồn (source IP)
•Địa chỉ IP đích (dest IP)
•Port nguồn (source port)
Lưu ý source port ở đây là port của client, còn dest port là port được request trên server, chẳng hạn port 80 ở ví dụ trên.

Kiểu NAT này khác với những kiểu NAT trên ở chỗ, packet từ server reply có thể bỏ qua ROUTER mà đi thẳng đến client ở ngoài Internet. Vấn đề ở chỗ địa chỉ IP của server vẫn là private IP, do đó đương nhiên packet reply mang địa chỉ source là IP nội bộ sẽ chẳng bao giờ đến được client.

Vậy thì bằng cách nào để buộc server phải trả lời thông qua ROUTER để được NAT địa chỉ IP đi ra Internet? Cách đơn giản nhất là ta có thể khai báo cho ROUTER là default gateway của các server. Nhưng cách này yêu cầu ROUTER phải ở cùng subnet với các server (cùng Layer 2 broadcast domain). Nếu không thể nằm cùng subnet thì sao? Đây là chỗ Full NAT khác biệt

FULL NAT được sử dụng.

Khi được thiết lập để thực hiện Full NAT, ROUTER sẽ thay source IP của tất cả các request packet bằng một địa chỉ được khai báo trên ROUTER, xem như là source IP, rồi thay dest IP (lúc này đang là VIP) thành IP của server (10.10.10.20), trước khi gửi đến server . Source IP này có thể giống hoặc khác VIP, tùy vào từng sản phẩm ROUTER. Như vậy tương tự như proxy, lúc này server thật sẽ xem ROUTER như là client yêu cầu mình, và không quan tâm đến client thực sự nữa. Vì thế server sẽ reply lại cho ROUTER và ROUTER sẽ đổi lại dest IP thành IP của client thực sự (188.1.1.100) để gửi đi.

Như vậy source port được thay đổi ở chỗ nào? Mỗi lần thay đổi một source IP của client thành source IP của ROUTER, gọi là một session, thì ROUTER thực hiện lưu lại những thông tin của client trong session đó bằng cách đổi source port trong cùng packet (lúc này đang là source port của client).

Source port lúc này có ý nghĩa như là một session ID không hơn không kém. Khi server reply về cho ROUTER, source port cũng được gửi trả về theo packet reply. Dựa vào source port này, ROUTER xác định được session của client trong bảng lưu để thay lại source IP, source port của client như cũ.

Ưu điểm của kiểu NAT này là cho phép bạn thực hiện việc thay đổi địa chỉ thông qua ROUTER trên mọi topology mạng. Nhược điểm là không lấy được các thông tin về IP, port từ phía client. Những ứng dụng như Web có sử dụng thông tin từ source IP của client thì không nên dùng mô hình này. Đa số các sản phẩm ROUTER đều cung cấp chức năng log và report source IP của các request.

Enhanced NAT

Những kỹ thuật NAT vừa trình bày ở trên đều xoay quanh việc thay đổi địa chỉ IP, cũng như port trong packet header. Tuy nhiên có những protocol đặc biệt chứa thông tin địa chỉ hay port nhúng trong packet payload, cũng cần phải được thay đổi cùng với packet header.

Điều này đòi hỏi ROUTER phải hiểu biết theo từng protocol cụ thể. Khái niệm enhanced NAT nói đến kiểu NAT phức tạp được thực hiện với những hiểu biết theo từng protocol cụ thể để làm cho những protocol đó hoạt động được với việc định tuyến gói tin.

Trong số các protocol đặc biệt đó, thông dụng nhất là các protocol streaming media (ví dụ RTSP – Real Time Streaming Protocol). Đây cũng là các protocol sử dụng cân bằng tải phổ biến nhất, vì chúng cực kì ngốn tài nguyên mạng và tính toán khi phải phục vụ đồng thời cho hàng trăm đến hàng ngàn người sử dụng.

Các protocol streaming thường gồm có hai kết nối, một kết nối điều khiển xây dựng trên TCP và một kết nối dữ liệu dựa trên UDP. Để khởi đầu, client khởi tạo một kênh điều khiển đến một well-known port trên server. Client và server sẽ thoả thuận các điều khoản cho kênh điều khiển. Sự thoả thuận gồm có IP của server và số port của server mà client sẽ gửi dữ liệu đến trên kết nối dữ liệu.

Nếu các server có địa chỉ IP private, ROUTER sẽ thực hiện Destination NAT cho kết nối điều khiển. Nhưng đồng thời ROUTER cũng phải xem các thông tin thoả thuận và thay đổi mọi thông tin về địa chỉ IP hay port mà server và client trao đổi sao cho client sẽ gửi dữ liệu đến VIP public chứ không phải IP private của server (những thông tin này nằm trong payload của packet).

Hơn nữa, dest port được chọn trong quá trình thoả thuận lại không biết trước được nên phải xử lý request ngay cả khi port chưa được liên kết đến bất kỳ server nào.

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp lại có những chính sách bảo mật trên tường lửa làm cho những kết nối dữ liệu trên nền tảng UDP có thể không thành công. Do đó nhiều hệ thống streaming media cho phép stream trên nền HTTP, nghĩa là toàn bộ dòng dữ liệu sẽ được gửi đi bằng kết nối được thiết lập bởi giao tiếp HTTP. Điều này làm cho việc NAT trở nên nhẹ nhàng hơn.

Direct Server Return (DSR)

Xét lại 2 kiểu NAT trên, ta xem hai cách xử lý cùng với các ưu nhược điểm của chúng là gán default gateway hay dùng kỹ thuật Full NAT để ép các reply của server không phải đi qua ROUTER.

Nhưng trường hợp ta muốn server trả lời trực tiếp cho client mà không thông qua ROUTER thì sao? Đây không phải là câu hỏi vô lý, vì trong trường hợp năng lực xử lý của ROUTER bị giới hạn, thì việc tách dòng lưu thông reply đi trực tiếp mà không qua ROUTER sẽ giúp ROUTER tập trung vào xử lý các lưu thông request hiệu quả hơn, tránh tắc nghẽn, nâng cao hiệu suất.

Nhưng với địa chỉ IP private, các server làm sao trả lời trực tiếp qua Internet đến client được? Chỉ với một chút phù phép xoay quanh các địa chỉ IP là vấn đề sẽ được giải quyết: khi được thiết lập để thực hiện DSR, ROUTER không chuyển dest IP thành IP của server mà vẫn giữ nguyên là VIP (public IP). ROUTER chỉ đổi dest MAC thành MAC của server để packet có thể đến được server. Như vậy giới hạn của DSR là ROUTER và các server phải nằm cùng subnet.

Vấn đề còn lại là làm sao để khi server nhận request packet từ ROUTER chuyển đến sẽ không từ chối, vì dest IP không phải là IP của server, mà là VIP! Một cách đơn giản, ta cấu hình để VIP là địa chỉ của loopback interface trên mỗi server. ROUTER dùng cách này vì lợi dụng những tính chất thú vị sau đây của loopback interface:

•Có thể gán bất kỳ địa chỉ IP nào, không bắt buộc phải bắt đầu bằng 127.
•Vì loopback interface không phải là một thiết bị thật, nó không có địa chỉ MAC, nên hệ thống sẽ không trả lời cho các request ARP. Do đó sẽ không có hệ thống bên ngoài nào biết được địa chỉ IP của loop back interface. Tuy nhiên, hệ thống vẫn nhận request đến IP của loop back interface và trả lời như là các interface khác.
Ta có thể thiết lập một địa chỉ IP public cho loop back interface trên Linux như sau:
ifconfig lo 141.149.65.3 netmask 255.255.255.0 up.
Như vậy, bằng một chút thủ thuật với các địa chỉ, server thật không cần địa chỉ IP public vẫn có thể nhận request và trả lời trực tiếp cho client.

DSR rất hữu ích cho những ứng dụng tốn băng thông như FTP, streaming media, khi mà kích thước packet reply là rất lớn so với kích thước packet request. Kỹ thuật này cũng được ứng dụng cho những protocol đòi hỏi phức tạp khi thực hiện NAT hay không được ROUTER hỗ trợ.

Chẳng hạn những giao thức streaming media như trong phần Enhanced NAT có đề cập, thì ta có thể dùng DSR thay vì NAT. Người ta cũng cân nhắc DSR khi triển khai trên mô hình mạng, khi mà lưu thông reply từ server không đảm bảo là sẽ đi đúng đích.

Kết luận

NAT trong ROUTER rất đa dạng, tùy thuộc vào từng tình huống mà ta áp dụng. Càng đi sâu, ta càng thấy cái hay trong việc xử lý thông tin của các packet, những đối tượng luận lý để giải quyết các vấn đề vật lý thú vị như thế nào. Nắm vững các kỹ thuật NAT giúp ta có thể triển khai các hệ thống định tuyến, cân bằng tải một cách an toàn và hiệu quả nhất

 

File host vào facebook 2013 mới nhất VNPT FPT

Cách vào facebook 2013, download file host 2013 full, File host vào facebook 2013 mới nhất VNPT FPT

 

Hiện nay thì mạng VNPT ở một số nơi vẫn bị chặn khi vào facebook, các bạn đổi file hosts theo dải IP mới nhất 2013 dưới đây để vào facebook tốc độ khá nhanh và ổn định.

 C:WindowsSystem32driversetc

Copy dòng IP dưới đây dán vào cuối file hosts:

173.252.100.26 facebook.com
173.252.100.26 www.facebook.com
173.252.100.26 www.login.facebook.com
173.252.100.26 login.facebook.com
173.252.100.26 apps.facebook.com
173.252.100.26 graph.facebook.com
173.252.100.26 register.facebook.com
173.252.100.26 vi-vn.connect.facebook.com
173.252.100.26 vi-vn.facebook.com
173.252.100.26 static.ak.connect.facebook.com
173.252.100.26 developers.facebook.com
173.252.100.26 error.facebook.com
173.252.100.26 channel.facebook.com
173.252.100.26 register.facebook.com
173.252.100.26 bigzipfiles.facebook.com
173.252.100.26 pixel.facebook.com
173.252.100.26 upload.facebook.com
173.252.100.26 register.facebook.com
173.252.100.26 bigzipfiles.facebook.com
173.252.100.26 pixel.facebook.com
173.252.100.26 logins.facebook.com
173.252.100.26 graph.facebook.com
173.252.100.26 developers.facebook.com
173.252.100.26 error.facebook.com
173.252.100.26 register.facebook.com
173.252.100.26 blog.facebook.com
173.252.100.26 channel.facebook.com
173.252.100.26 connect.facebook.com
173.252.100.26 bigzipfiles.facebook.com

Hiển thị lượt download file với plugin wordpress download handler

WordPress Downloads Handler aka Handler WP Downloads là một plugin được phát triển bởi BlogTechnics . Plugin này giúp bạn theo dõi lượt tải về trên blog wordpress.

Plugin  WP Downloads Handler sử dụng đơn giản để cho phép tôi để thêm các hộp download đẹp với các nút download tùy chỉnh và cho thấy tải số liệu thống kê lượt tải trên bảng điều khiển quản trị wp-admin.

WP Downloads Handler

WP Downloads Handler Buttons 300x265 WordPress Downloads Handler Plugin 1.0 hiển thị lượt download trên blog wordpress

WordPress Downloads Handler, có thể quản lý và theo dõi tất cả các file download  trên trang web wordpress của bạn, Bạn thậm chí có thể thêm các tập tin tải lên từ xa. Plugin này không thêm bất kỳ phụ tải trên các máy chủ cơ sở dữ liệu của bạn như những người khác thường làm. Nó thậm chí không tạo ra bất kỳ bảng cơ sở dữ liệu cho đến khi tải về của bạn đầu tiên được xử lý. Nó rất nhẹ và vô cùng đơn giản để sử dụng. Nó bao gồm 3 bước đơn giản, như sau.

Bước 1 : Chọn File Download của bạn

Chỉ cần tải lên tập tin của bạn đến máy chủ của bạn hoặc thông qua sử dụng WordPress Media Uploader hoặc trực tiếp thông qua bất kỳ chương trình FTP. Sao chép địa chỉ URL của file tải của bạn.

Bước 2 : Thêm shortcode đến bài viết của bạn

Click vào nút WP Downloads TinyMCE Handler biên tập bài viết của bạn. Chọn Tải về (US) Box của bạn (xám, xanh hoặc xanh), Add URL Tải về, sau đó cuối cùng Thêm một văn bản cho nút Tải về.

Bước 3 : Theo dõi Downloads

Nó được tất cả các Xong! đã. Thời gian của nó để theo dõi các số liệu thống kê của tải của bạn. Bất cứ khi nào một người dùng sẽ tải về bản sao đầu tiên của tập tin của bạn. Tracker này sẽ bắt đầu làm việc và hiển thị các số liệu thống kê cho rằng tập tin trên Bảng điều chỉnh quản lý của WordPress.

Thông tin chi tiết Downloads WP Plugin Handler  :

  • Plugin Name : WP Downloads Handler
  • Phiên bản : 1.0
  • Tác giả : Deepak Singh (@ blogtechnics)
  • Phát hành ngày : 28 /07/ 2012

Các tính năng của Handler Downloads WP :

  • Hỗ trợ gần như tất cả các loại tập tin phương tiện truyền thông.
  • Đẹp Hộp Tải về với Downloads Thống kê.
  • Nút tùy chỉnh với các dòng chữ Tuỳ chỉnh trên.
  • TinyMCE và jQuery hỗ trợ hộp thoại, nút và xử lý shortcode.
  • Không gây quá tải máy chủ cơ sở dữ liệu của bạn.
  • Dễ dàng để Thêm, Thiết lập lại hoặc xóa bất kỳ truy cập tải về.
  • Xử lý tải trên cùng một cửa sổ.
  • Quay nội dung undownlodable vào tải về (như hình ảnh trên WordPress).
  • Tải số liệu thống kê với File Name, URL, và File Size với những cột phân loại.
  • Khả năng làm việc với tất cả các khuôn khổ chủ đề và dành tất cả các plugins hiện có.

Download Buttons WordPress Downloads Handler Plugin 1.0 hiển thị lượt download trên blog wordpress

Tải về hộp & Buttons

Download Box Adder WordPress Downloads Handler Plugin 1.0 hiển thị lượt download trên blog wordpress

TinyMCE Dialogue Box

WP Downloads Handler 1024x400 WordPress Downloads Handler Plugin 1.0 hiển thị lượt download trên blog wordpress

WP Downloads Handler quản trị

Download plugin